Những người viết các tạp chí này trước hết phải là độc giả. Điều này rất quan trọng khi đọc tạp chí và báo, nhưng nó cũng có thể áp dụng cho các cuốn sách về lịch sử đương đại. Tuy nhiên, hình thành một thói quen khác với việc biết những quy tắc của một môn nghệ thuật.
Nếu bạn học cách đọc đó, thì việc đọc lấy thông tin sẽ tự diễn ra mà không cần bạn quan tâm. Việc đọc liền mạch một vở kịch giúp ta hiểu toàn cục tác phẩm. Ví dụ tiêu biểu nhất là cuốn Kinh Thánh.
Một vài trong số đó là các bài dài nhiều trang, số khác là các đoạn chính hay thậm chí là một phần của đoạn. Rõ ràng, những từ được dùng theo cách đặc biệt là tối quan trọng đối với tác giả. Ngay từ đầu, Euclid đã làm rõ hệ thống từ chuyên môn mà ông sử dụng.
Việc lồng ghép các ẩn dụ thường làm cho nội dung tác phẩm có thêm nhiều lớp nghĩa chứ không chỉ nằm trong các từ ngữ viết nên tác phẩm. Tuy nhiên, các nhà triết học thường hay đặt ra những từ mới, hoặc biến một số từ trong ngôn ngữ đời thường thành từ chuyên môn. Bạn không thể nắm rõ được nội dung câu chuyện nếu chưa quen hết các nhân vật và chưa đọc hết các tình tiết trong truyện.
Điều này không có nghĩa là sử gia đã bịa ra những thông tin lịch sử giống như thi sĩ hay người kể chuyện. Điều này cũng tương tự với một số cuốn sách chứa đựng kiến thức về vật lý hay hoá học. Chúng tôi cũng muốn bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đối với những lời phê bình có tính xây dựng, sự hướng dẫn và giúp đỡ của Arthur L.
Mỗi ngày có vô số sách báo viết về các chủ đề như sắc tộc, tội phạm, thực thi pháp luật, nghèo đói, giáo dục, phúc lợi xã hội, chiến tranh và hoà bình… Phần lớn các tác phẩm này đều mượn tư tưởng và ngôn ngữ từ các ngành khoa học xã hội. Lý trí là nguồn gốc sức mạnh giúp con người đưa ra ý kiến tán thành. Cuối cùng, chúng càng lúc càng ít tác dụng cho đến khi không còn gì nữa.
Vì thế, một cuốn bách khoa toàn thư không thể đáp ứng hoàn toàn nhu cầu tìm hiểu sự vật của con người. Nhưng triết học không hạn chế ở những câu hỏi lý thuyết. Nhưng cũng sẽ là vô ích nếu cố đọc hay học thuộc cho kỳ hết một cuốn bách khoa toàn thư.
How to read a book (Đọc sách như một nghệ thuật) của hai tác giả Mortimer J. Những giả thuyết như thế được rút ra trực tiếp từ kinh nghiệm chứ không phải được chứng minh từ những giả thuyết khác. Trong nhiều trường hợp, chúng ta không thể áp dụng những quy tắc này hoàn toàn giống như khi đọc một cuốn sách, nhưng việc điều chỉnh chúng cho phù hợp với loại tài liệu đang đọc không có gì khó.
Đó cũng là cách sắp xếp dễ nhất và nhờ nó mà công việc biên soạn bách khoa toàn thư đã đạt được rất nhiều bước tiến lớn. Có thể kể đến trường hợp các bài phê bình đối với cuốn Poetics (Thơ ca) của Aristotle như một ví dụ tiêu biểu. Quy tắc này cũng có thể diễn tả bằng câu kể như sau: Chấn chỉnh kịp thời sẽ tiết kiệm được rất nhiều.
Mục 4 Mối quan hệ giữa chính quyền các bang và chính quyền liên bang. ĐÁNH SỐ CỦA NHỮNG TRANG KHÁC BÊN LỀ: Để chỉ ra những chỗ khác trong cuốn sách có nhận định tương tự, hay những ý liên quan hoặc đối lập với những ý đã được đánh dấu; tập hợp các ý liên quan đến nhau nhưng nằm rải rác trong cuón sách. Dữ kiện không phải là những quan điểm cá nhân.